Thẩm quyền cưỡng chế công trình xây dựng trái phép trên đất nông nghiệp, đất cộng

Kính gửi UBND thành phố Hà Nội, tôi có câu hỏi như sau: Hiện nay, gia đình tôi đã dựng lán xưởng sản xuất kinh doanh trên diện tích đất nông nghiệp thuộc quyền sử dụng hợp pháp của gia đinh hơn chục năm nay và gia đình tôi còn được đăng ký thành lập hộ kinh doanh. ngày 1/4/2017 UBND xã đã lập biên bản vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng theo điểm a, khoản 7, điều 13 Nghị định 121/2013/NĐ-CP vì hết thời hạn xử phạt vi phạm hành chính nên UBND xã đã ra quyết định cưỡng chế áp dụng phá dỡ công trình xây dựng trái phép, buộc khôi phục lại tình trạng ban đậu Xin hỏi thẩm quyền ra quyết định cưỡng chế của xã đúng hay sại Xin chân thành cảm ơn,

Người hỏi: Trang Tran ( 15:53 12/07/2017)

CÂU TRẢ LỜI

Chào ông, cám ơn ông đã gửi câu hỏi cho Cổng Giao tiếp điện tử Hà Nội,
 
Về câu hỏi của ông, chúng tôi xin trả lời như sau: Theo các quy định tại:
 
- Điều 65 của Luật 15/2012/QH13 ngày 20 tháng 6 năm 2012 về xử lý vi phạm hành chính Điều 65. Những trường hợp không ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính
c) Hết thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính quy định tại Điều 6 hoặc hết thời hạn ra quyết định xử phạt quy định tại khoản 3 Điều 63 hoặc khoản 1 Điều 66 của Luật này;
2. Đối với trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này, người có thẩm quyền không ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính nhưng có thể ra quyết định tịch thu sung vào ngân sách nhà nước hoặc tiêu hủy tang vật vi phạm hành chính thuộc loại cấm lưu hành và áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại khoản 1 Điều 28 của Luật này.
Quyết định phải ghi rõ lý do không ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính; tang vật bị tịch thu, tiêu hủy; biện pháp khắc phục hậu quả được áp dụng, trách nhiệm và thời hạn thực hiện.
 
- Khoản 2 - Điều 2 của Thông tư 02/2014/TT-BXD ngày 12/2/2014 Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 121/2013/NĐ-CP ngày 10 tháng 10 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động xây dựng; kinh doanh bất động sản; khai thác, sản xuất, kinh doanh vật liệu xây dựng; quản lý công trình hạ tầng kỹ thuật; quản lý phát triển nhà và công sở
 
2. Trường hợp hành vi vi phạm hành chính đã hết thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại Điều 4 Nghị định số 121/2013/NĐ-CP thì xử lý như sau:
a) Người có thẩm quyền lập biên bản theo Mẫu biên bản số 02 ban hành kèm theo Thông tư này và chuyển ngay đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có công trình vi phạm. Trong thời hạn 05 ngày (đối với công trình không phải lập phương án phá dỡ), 12 ngày (đối với công trình phải lập phương án phá dỡ) kể từ ngày lập biên bản mà chủ đầu tư không hoàn thành việc phá dỡ công trình vi phạm thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã ban hành quyết định cưỡng chế phá dỡ trừ trường hợp quy định tại Điểm b Khoản này;
b) Đối với công trình xây dựng thuộc thẩm quyền cấp giấy phép xây dựng của Ủy ban nhân dân cấp huyện hoặc Sở Xây dựng, người có thẩm quyền lập biên bản theo Mẫu biên bản số 02 ban hành kèm theo Thông tư này. Trong thời hạn 02 ngày kể từ ngày lập biên bản, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có công trình vi phạm phải chuyển hồ sơ lên Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện. Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện có trách nhiệm ban hành quyết định cưỡng chế phá dỡ công trình xây dựng vi phạm, chuyển cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức thực hiện.
 
Như vậy, khi hết thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính, người có thẩm quyền vẫn được ra các quyết định để khắc phục hậu quả, trong đó có biện pháp buộc tháo dỡ công trình xây dựng trái phép. Do vậy, trong trường hợp của gia đình ông, tuy đã hết thời hiệu để xử phạt vi phạm hành chính song gia đình ông vẫn sẽ bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả là buộc tháo dỡ công trình xây dựng trái pháp luật.
 
Nếu công trình xây dựng của ông thuộc quyền cấp giấy phép của UBND xã, thì UBND xã có thẩm quyền ra quyết định cưỡng chế.
 

Trả lời: Cổng Giao tiếp điện tử Hà Nội ( 16:30 14/07/2017)

Những câu hỏi khác